.

So sánh máy du lịch và máy DSRL



I. Giớithiệu:
Có tới 4 lý do chính khiến cho DSLR hơn hẳn một máy ảnh số bình dân.
- Đó là tốc độ.
- Chụp trong điều kiện thiếu sáng tốt hơn.
- Ống kính có chất lượng.
- Linh hoạt hơn.
Với máy ảnh số du lịch, chắc hẳn sẽ có lúc bạn cảm thấy thất vọng bởi khi nhìn thấy một khung cảnh đẹp trên màn LCD, bạn bấm máy. Đến khi xem lại ảnh chụp thì nụ cười đã biến mất, mắt mở đã nhắm lại… Máy ảnh không chụp được khoảnh khắc ngay khi bạn bấm nút. Tất cả bắt nguồn từ độ trễ.

1. Do người chụp: độ trễ xảy ra trong quá trình tín hiệu nhận hình ảnh từ mắt, lên não xử lý rồi mới xuống đến tay, từ đó điều khiển cơ ngón tay bấm nút chụp. Đây là quá trình trễ tự nhiên trong xử lý thông tin của mỗi người nên để giảm tổng thời gian trễ, bạn phải nhờ vào tốc độ hoạt động của máy ảnh.

2. Do máy: máy ảnh bình dân có một độ trễ nhất định khi ánh sáng đi qua ống kính, được cảm biến xử lý và hình ảnh được hiển thị lên màn LCD. Mặc dù có vẻ như những gì bạn thấy trên màn hình LCD của máy ảnh là những gì diễn ra trước mắt bạn, nhưng thật ra nó không diễn ra cùng lúc mà sẽ chậm hơn cảnh thật một chút. DSLR thì ngược lại, khung cảnh bạn nhìn qua khung nhìn không được cái gì xử lý cả mà được đi qua ống kính, qua gương phản chiếu, lăng kính ngũ giác và tới mắt. Do vậy những gì bạn nhìn thấy chính là những gì đang diễn ra với tốc độ thực ở thời gian thực và không có độ trễ nào cả.

3. Do cửa trập: máy ảnh bình dân, khi bấm, máy ảnh bắt đầu tìm điểm nét, đo sáng, điều chỉnh độ phơi sáng thích hợp rồi cuối cùng lưu ảnh vào cảm biến. Toàn bộ quá trình này tạo nên cái gọi là độ trễ cửa trập (do máy ảnh bình dân không có cửa trập thực sự). Ngày nay với công nghệ tiên tiến về bộ vi xử lý hình ảnh, toàn bộ quá trình này trong các máy ảnh bỏ túi, nhất là các máy đời mới, đã giảm xuống còn khoảng nửa giây, nhưng vẫn chưa thể bì kịp với tốc độ của DSLR.
Mặt khác, tốc độ đóng mở cửa trập tối đa của máy DSLR thông thường đều đạt mức 1/4000 hay 1/8000 giây, đủ "đóng băng" hầu hết các chuyển động đời thường. Trong khi đó, hầu hết máy ảnh bình dân tốc độ đóng mở cửa trập (thực chất là tốc độ bật tắt cảm biến) thông thường chỉ đạt 1/2000 giây.

4. Tốc độ lấy nét: với các máy ảnh bình dân, hệ thống lấy nét dựa trên độ tương phản (Nếu bạn để AF và hướng máy về một đối tượng chụp như là một bức tường trơn 1 màu chẳng hạn, máy sẽ khó mà tìm được điểm lấy nét, cho dù điều kiện ánh sáng có tốt tới đâu), trong khi trên các máy DSLR dựa trên sự đồng pha. Hệ thống lấy nét theo pha này hoạt động trên nguyên lý hai hình trùng một (hình ảnh qua ống kính sẽ được phản chiếu tách biệt thành 2 hình và cảm biến nét sẽ xác định điểm nét bằng việc điều chỉnh hai hình trùng khớp lên nhau) nên tốc độ lấy nét nhanh hơn và đáng tin cậy hơn rất nhiều so với việc chỉ dựa trên sự tương phản. Thí nghiệm cho thấy hệ thống lấy nét theo pha gần như tức thời tới khoảng một phần tư giây, trong khi hệ thống lấy nét theo độ tương phản mất từ nửa tới ba phần tư giây.

5. Thời gian zoom : cũng ảnh hưởng tới tốc độ chụp. Cơ chế zoom trong máy ảnh số bình dân là zoom điện từng cấp nên tốc độ ra vào rất chậm. Mặt khác, khi bạn zoom, hệ thống sẽ phải lấy nét lại từ đầu, khiến cho tốc độ vốn đã chậm lại càng thêm chậm. Trong khi đó DSLR có hệ thống zoom cơ xoay vặn vô cấp, độc lập với hệ thống lấy nét, bạn hoàn toàn có thể lấy nét rồi zoom ra hay vào rất nhanh chóng mà điểm nét vẫn giữ nguyên.

II. Điều kiện thiếu sáng: 
Một khác biệt cơ bản nhất có thể nhận thấy là DSLR có cảm biến sáng lớn hơn, Cảm biến lớn dẫn đến điểm ảnh lớn hơn. Điểm ảnh lớn hơn nghĩa là mỗi điểm ảnh thu được lượng ánh sáng nhiều, cảm biến thu được nhiều thông tin về màu sắc và mật độ trên mỗi điểm ảnh hơn, từ đó cho ra bức ảnh có màu sắc trung thực hơn. Trong khi đó các máy bình dân lấy nét bằng độ tương phản và lại dùng chính cảm biến ảnh để nhận diện độ tương phản. Trong điều kiện ánh sáng đủ thì không vấn đề gì, nhưng trong điều kiện thiếu sáng, các điểm ảnh do đã quá nhỏ nên bản thân việc hấp thụ ánh sáng đã khó khăn, chứ chưa nói đến việc có thể nhận diện được tương phản sáng tối trong hoàn cảnh ít ánh sáng như vậy. Do là máy ảnh ống kính rời nên khi phải chụp trong những điều kiện thiếu sáng, người chụp hoàn toàn có thể đổi sang lắp những ống kính có độ mở lớn.

III. Ống kinh:
Điều đặc biệt nhất của máy DSLR là bạn có thể chọn bất kỳ ống kính nào bạn muốn tùy túi tiền trong vô vàn dòng ống kính của hãng máy ảnh bạn có. Thậm chí, nếu không có đủ kinh phí dùng ống chính hãng, bạn cũng vẫn còn vô khối lựa chọn từ các hãng thứ ba như Sigma, Tamron......

Bạn có thể tự xác định cho mình những ống kính phù hợp với nhu cầu. Nhiều người thì thích chỉ một ống có dải zoom rộng như 18 -200 mm chẳng hạn, phục vụ đủ hết mọi nhu cầu. Tuy nhiên, các ống có dải zoom quá dài thường có chất lượng không cao.

Bạn có thể chọn bộ ba 16 -35 mm, 24 -70 mm và 70 -200 mm chẳng hạn. Lúc này bạn có thể thỏa thích thử nghiệm những gì mà máy DSLR có thể mang lại.
Một khía cạnh khác của DSLR, là việc chọn đúng ống kính để chụp trong mỗi trường hợp cụ thể, đối tượng cụ thể khiến cho bạn luôn phải suy nghĩ, tìm tòi, và thử nghiệm. Chính quá trình này sẽ tạo nên sự khác biệt giữa một tay ảnh và một người chỉ cầm máy ảnh lên để "ngắm và chụp".

IV. Sự linh hoạt:
Hầu hết những người sở hữu máy ảnh bình dân thì nghĩ chính các máy này mới linh hoạt hơn so với DSLR do họ có thể chụp ảnh, quay phim, thu âm… bất cứ thứ gì họ thích với một chiếc máy ảnh nhỏ gọn. Mặc dù ngày nay với với sự tiến bộ của công nghệ thì DSLR đã có thể làm được hết những gì mà máy ảnh bình dân làm được, nhưng tính linh hoạt của DSLR không nằm ở các yếu tố này. Tính linh hoạt của DSLR chính là ở chỗ bạn có thể "chơi" với ánh sáng thông qua việc tỉnh chỉnh các thông số phơi sáng trên máy ảnh, rồi chỉnh đèn, dùng kính lọc, dùng tản sáng… để cho ra những bức ảnh theo cách riêng của bạn. Đó là sự linh hoạt trong sáng tạo.